Lành lặn
Có một bản thể mà ta trân quý ở cuối con đường.

Sài Gòn, một quán cà phê cóc rộng rãi, có mặt sàn lót bằng cỏ nhân tạo. Ngay giữa quán là một cái cây lớn. Phần mái che của quán được thiết kế để trông cái cây như đâm xuyên qua. Gốc cây xếp đầy đá cuội và, tất nhiên, có cỏ nhân tạo bọc xung quanh. Tôi ngồi ở chiếc bàn ngay đối diện gốc cây.
Người đàn ông ngồi cạnh tôi đốt thuốc và nhả khói liên tục. Anh gẩy tàn thuốc vào chiếc gạt tàn đặt trước mặt, nhưng lại ném phần còn lại của điếu thuốc sau khi hút xong vào gốc cây. Điếu thuốc cuối cùng mà anh liệng vào gốc cây, phần còn lại của nó vẫn đang cháy dở, và hơi lẹm vào nhúm cỏ nhân tạo. Mùi nhựa khét xộc lên.
Xen lẫn những viên đá cuội ở gốc cây là chi chít những mẩu thuốc tàn, và anh có vẻ không phải là thủ phạm chính của việc này. Anh là đồng phạm. Nhiều người khác đã làm vậy rồi, và anh chỉ là người làm theo, một cách vô thức.
Khi người đàn ông rời đi được một lúc, một cậu bé chừng ba tuổi xuất hiện. Cậu nhảy hẳn vào trong lòng gốc cây, giữa những viên đá cuội và những tàn thuốc, ngồi thụp xuống và bắt đầu chơi những trò không tên. Tôi thấy sự hào hứng của cậu bé qua đôi mắt nheo nheo đen láy và cái miệng chỉ chực tủm tỉm cười, rất xinh trai.
Lúi húi một hồi, cậu tìm được một túi trà lọc đã khô quắt, và lập tức coi nó như một chiến lợi phẩm quý giá. Cậu giơ lên, đảo mắt tìm một người để chia sẻ niềm hân hoan này. Bắt gặp ánh mắt của tôi đang nhìn chăm chú, cậu nhoẻn miệng cười.
Nhưng niềm vui ngắn chẳng tày gang. Một tiếng quát như xé vải bay vụt qua tai làm tôi giật mình. Nụ cười của cậu bé tắt ngấm. Cái hứng khởi và cái thất vọng rõ rệt như ngày và đêm. Cậu nhận ra tiếng của người mẹ gọi mình. Cậu lưỡng lự và chần chừ rời khỏi gốc cây, và tiếp tục phải nhận thêm những lời quát tháo chát chúa nữa. Sau cùng, người mẹ ra tận nơi, đùng đùng lôi cậu về chỗ, trong lúc cậu bắt đầu phụng phịu. Túi trà lọc khô quắt, tất nhiên, bị vứt trở lại gốc cây.
Tôi nhìn thấy một niềm vui thuần khiết vừa bị giật khỏi tay một đứa trẻ.
Đó là phản ứng không hiếm của nhiều ông bố bà mẹ khi thấy đứa con của mình trở nên hiếu động. Khi sự kiên nhẫn hoàn toàn vắng mặt, họ chỉ còn biết thể hiện quyền uy, và nguy hiểm hơn thế, là thái độ thờ ơ với niềm vui của chúng. Tôi tự hỏi, thằng bé sẽ có bao nhiêu lần được vui như thế trong những ngày thơ ấu, trước khi nó thực sự bước vào đời sống trưởng thành đầy rẫy những cám dỗ trần trụi, để rồi (có nguy cơ) trở thành một người lớn coi nhẹ niềm vui của con trẻ.
Người ta sẽ nói rằng, cái gốc cây bẩn thỉu đó thì có cái gì để mà chơi? Nhỡ thằng bé tiện tay bỏ cái gì vào mồm thì làm sao? Bé tí thế nhỡ mải chơi rồi đi lạc hoặc bị bắt cóc thì làm thế nào? Những điều đó hoàn toàn có lý. Nhưng có vẻ chúng ta đang quá lo lắng cho những rủi ro chưa tới (mà có thể chẳng bao giờ tới) mà quên mất rằng thực tại đang có một niềm vui cần sẻ chia. Nếu thực sự quan tâm đến đứa trẻ và niềm vui của chúng, ta sẽ luôn có cách, trước nhất là bỏ chiếc điện thoại xuống.
Niềm vui thuần khiết của một đứa trẻ là một niềm vui phức tạp, vì nó khó giải thích, chẳng đòi hỏi một người nào ở bên hay một điều kiện nào cụ thể để vui. Niềm vui đến như một hơi thở đều đặn, vui vì bất kỳ điều gì xảy đến, mặc cho bất kỳ điều gì đang diễn ra. Một đứa trẻ có thể dễ dàng ở một mình, chơi những trò buồn chán, và luôn mở to mắt để sẵn sàng vui, một điều mà người trưởng thành khó bắt chước.
Người trưởng thành khó bắt chước, chỉ vì chúng ta cho rằng mình là người lớn, rằng đã là người lớn thì phải cho ra dáng người lớn. Niềm vui của chúng ta đơn giản hơn, nhưng nó khiến hơi thở của chúng ta biến dạng, bởi niềm vui ấy dựa trên điều kiện: tiếng ting ting vào cuối tháng, một lời công nhận, một lời khen, được cầm trên tay chiếc điện thoại mới, cưỡi trên một con xe mới. Chúng ta sợ khi tưởng tượng ra ánh nhìn của người khác nếu chẳng may họ thấy mình vui kiểu trẻ con. Chúng ta không muốn trở nên khác người, và nỗi sợ ấy khiến con người ta trở nên giống nhau. Nhưng từ trong sâu thẳm của sự giống nhau ấy, nỗi cô đơn lớn dần.
Và khi những giai đoạn khủng hoảng ập tới, chúng ta lạc lối vì không còn biết tìm niềm vui ở đâu. Ai trong chúng ta cũng từng là trẻ con, và khi đánh mất niềm vui thuần khiết của một đứa trẻ, chúng ta mất kết nối với chính mình. Cảm giác ở một mình khi đó là ác mộng, và như một điều hiển nhiên, ta sẽ hướng đến những điều đi ngược lại với bản chất con người mình, chỉ bởi vì nó mang lại niềm vui. Một niềm vui tạm bợ, nhừa nhựa, mơ hồ mà đâu đó chính ta cũng cảm nhận được, nhưng không làm sao dứt ra được.
Một đứa cháu họ của tôi năm nay học lớp 11. Gia đình cậu thuộc dạng khá giả, chỉ có một điều kém may mắn là người anh ruột của cậu mắc chứng tự kỷ. Vậy là, bố mẹ cậu dồn rất nhiều nguồn lực và hy vọng để “đầu tư” cho cậu. Cậu được trải nghiệm những thứ tốt nhất, được đi chơi đó đây, được cung cấp mọi điều kiện lý tưởng để sinh hoạt và học hành.
Thế nhưng có một điều mà bố cậu luôn trăn trở về cậu, đấy là gần 18 tuổi rồi mà cậu “cứ như một đứa học sinh cấp hai”. Ý anh tôi nói ở đây là về suy nghĩ và cách hành xử. Anh chị tôi là những công dân bận bịu điển hình ở thời đại này. Lịch trình công việc hàng ngày của họ thường kéo dài từ sáng đến khuya, với những cuộc hẹn, những dự án, những kế hoạch, những đơn hàng, liên miên.
Trong lịch trình đó cũng bao gồm cả việc đưa đón đứa cháu tôi đi học, từ học chính đến học thêm. Khi nào bố mẹ bận không đưa đón được, thì cậu sẽ tự đi grab, chứ chưa được cho đi xe đạp, xe đạp điện, hay xe máy. Thậm chí, mẹ cậu còn “đưa” luôn cậu vào cấp ba. Đứa cháu tôi không tham gia thi tuyển vì mẹ cậu quá bi quan về khả năng thi đậu của cậu, từ đó quyết định cho cậu học ở một trường dân lập.
Anh chị tất nhiên là mong đứa cháu tôi lớn lên bình thường và trở thành một người đàn ông đàng hoàng, nhưng thời gian gần đây cậu ngày càng có nhiều bất mãn, một phần vì tính tình ẩm ương của giai đoạn thiếu thời. Tuy nhiên, có một bất mãn đáng chú ý, đó là cậu thường xuyên đặt lại câu hỏi về cách dạy dỗ của anh chị tôi, nhất là anh tôi. Một dạng phản biện, dù yếu ớt nhưng vẫn là phản biện, phản biện về những lời chê bai, về những áp đặt, về những kỳ vọng phải thế này thế kia.
Đợt Tết vừa rồi, có một dịp cả nhà ngoại tôi ra ngoài ăn chả cá. Cậu bé thường ngồi cạnh bố, để tiện được bố chỉ bảo. Khi các món được dọn lên đầy đủ, anh tôi bắt đầu hướng dẫn cậu bé cách ăn chả cá, rằng con phải cho ít hành, ít thì là, một miếng cá, chút bún, rồi rắc ít lạc, rưới ít mắm tôm lên, rồi và một phát hết luôn.
Cơ mà cậu không làm theo. Cậu cho bún vào bát, gắp miếng cá, chấm vào mắm tôm, rồi cứ thế ăn cùng bún, lạc thì nhẩn nha ăn riêng, và thi thoảng mới gắp chút hành và thì là. Anh tôi bảo đây không phải lần đầu cậu bé được ăn chả cá, thậm chí từng ăn rất nhiều lần, nhưng không hiểu vì sao vẫn ăn kiểu vậy. Và như một thói quen, trước mặt cả nhà, anh tôi bắt đầu chê cậu bé và lôi lại những phàn nàn cũ, rằng tại sao cậu bé không chịu lớn. Và cậu đáp trả, lôi lại những bất mãn cũ về ông bố.
Tôi chỉ thấy, việc đứa cháu tôi không chịu ăn theo cách người lớn hay ăn, dù đã nhiều lần ăn món này, nói lên rằng điều đó không quan trọng với cậu. Cậu làm điều khiến cậu vui và thoải mái. Đó có thể gọi là một sự dũng cảm. Thực ra, không phải điều gì quan trọng với người khác cũng quan trọng với mình. Người ta hay sùng bái quá mức những tiêu chuẩn, chắc là vì người ta sợ sống khác đi.
Lúc đó, tôi mới nói vui với anh tôi và cậu bé rằng, “Gặp nhau hết trong dạ dày ấy mà, nhỉ”, và anh tôi bảo, “Không, ăn cái gì cũng phải có kiểu chứ”. Nghe vậy tôi im, vì không biết phải nói gì thêm. Xét riêng về chuyện ăn uống, soi chiếu lại bản thân tôi hồi bé, ăn bún chả đừng hòng tôi động đến rổ rau sống. Nhưng sau này lớn lên, ăn bún chả là phải có rau sống, không có không chịu được.
Nhiều thứ kỳ lạ mà mình không giải thích nổi, thôi thì cứ để tự nhiên vận hành. Và chắc chắn nó sẽ vận hành. Những chê bai hay áp đặt không bao giờ giải quyết được vấn đề. Chúng ta vẫn hay gò ép những thứ vốn sẽ ổn nếu để chúng tự nhiên diễn biến.
Bản thân tôi cũng không phải là một đứa trẻ có đủ hành trang để bước vào thế giới người lớn.
Sau quãng 10 năm đầu đời êm đềm, quãng 10 năm tiếp theo của tôi đầy sóng gió. Khi bố tôi ngã bệnh và mẹ tôi lao vào vòng xoáy mưu sinh, tôi đã đi qua giai đoạn thiếu thời mà không có ai định hướng và chỉ bảo. Những thói hư tật xấu cứ thế bủa vây: nói dối thành thần, ham mê mấy trò điện tử tới mức ăn trộm tiền của mẹ và của bà nội để đi chơi, cãi láo với người thân. Chỉ thiếu nước đu bám theo lũ bạn nghiện ngập trong xóm mà thôi.
Áp lực cuộc sống khiến mẹ tôi trở nên khắc nghiệt với con cái. Tôi hứng nhiều trận đòn roi, những cái tát thẳng tay, những cái chỉ tay chửi vô mặt, những màn mắng mỏ chì chiết mà tôi chỉ biết cúi gằm, không thốt ra được lời nào. Tôi bị gán những cái nhãn, nào là “thằng mất dạy”, “thằng ăn cắp”, “thằng khốn nạn”. Mẹ tôi rát đòn tới mức có những lúc tôi lê lết và thầm mong bà biến khỏi đây luôn đi. Dư âm của tất cả những điều đó tạo ra một đứa nhóc giống người vô hình vào những năm cấp ba. Mọi chuyện chỉ khá lên đôi chút vào quãng năm ba đại học, khi tôi gặp được những người bạn đồng điệu.
Sự trầm lặng và rụt rè khiến tôi nhận nhiều phán xét, từ cả người thân lẫn bạn bè. Nếu những phán xét từ bạn bè tác động 1, thì cũng những phán xét ấy nhưng từ người thân phải tác động 10. Điều đó găm vào đầu một thằng bé mới lớn rằng nó kém cỏi và lệch lạc. Tôi trở nên tự ti và thụ động. Sự tự ti và thụ động đã theo tôi rất lâu, gần như trở thành một vết khắc lên tảng đá tâm trí. Sự tự ti và thụ động khiến tôi đi vào những con đường những tưởng là dành cho mình. Sự tự ti và thụ động từng khiến tôi cố ép mình đừng trở nên khác người, mà hãy trở nên giống người.
Thời gian ở một mình trong những chuyến lang thang đơn độc giúp tôi có khoảng lặng cần thiết để nhìn nhận mọi chuyện. Và sau này, khi có duyên may tiếp xúc với thiền định, mọi thứ trong tôi dần vững vàng hơn. Không còn lung lay dữ dội khi nghe một ai đó lớn tiếng khoe khoang hay giáo huấn, không còn choáng ngợp bởi những thứ bị phức tạp hóa. Tôi thấy từ bên trong mình, một bản thể khác được gọt giũa và chạm khắc, không còn cúi gằm mặt mà biết nhìn thật sâu vào mắt người, lắng nghe chuyện đời mà bớt đi phán xét và phản ứng. Tôi sẵn sàng nhảy vào một gốc cây bẩn thỉu, tìm cho mình cái túi trà lọc khô quắt đó, giữa những viên đá cuội và tàn thuốc lá, để có một niềm vui giản dị.
Đó mới là lúc tôi dám nhìn về gia đình, để xoa dịu và hàn gắn. Người ta vẫn hay nói rằng những khổ đau lớn nhất của đời người đều do người thân gây ra, càng ngẫm tôi càng thấy điều đó đúng. Nhưng nếu ruồng bỏ gia đình, ta chẳng còn lại gì cả.
Tôi nghĩ nhiều về sự kiên nhẫn mà người ta trao cho nhau trong đời sống ngày càng hối hả này, đặc biệt là sự kiên nhẫn của một người lớn dành cho một đứa trẻ. Kiên nhẫn với một đứa trẻ, tức là kiên nhẫn với chính mình, là đợi chờ một niềm vui nảy nở.
Một dịp nọ, tôi có hẹn cà phê với vợ chồng người bạn và một cô bạn nữa từ Hà Nội vào chơi. Vợ chồng người bạn tôi có một nhóc tì 4 tuổi, còn cô bạn kia là bà mẹ hai con. Quán cà phê tương đối nhỏ, còn cậu bé thì khá hiếu động.
Xin được một cây bút và một tờ giấy, cậu bé nhảy sang một bàn trống và bắt đầu chúi mũi vẽ. Được một lúc, cậu quay ra mè nheo mẹ, có thể vì không vẽ được con cá theo ý mình muốn, mè nheo tới mức phụng phịu, khóc nhè tới nơi. Rồi, sau khi cậu vẽ vời chán chê, mẹ cậu gấp tờ giấy vẽ thành một cái máy bay, và cậu bắt đầu chạy toán loạn trong quán để tự chơi trò phi máy bay, thậm chí còn phi trúng một vị khách đang ngồi trong quán.
Theo dõi tất cả những sự việc ấy, tôi nhìn thấy sự kiên nhẫn của hai bà mẹ. Mẹ cậu bé kiên nhẫn giảng giải cho cậu về cách vẽ con cá, kiên nhẫn đáp ứng những đòi hỏi của cậu để vẽ một con cá hoàn chỉnh hơn, theo cách rất nhập tâm và nghiêm túc. Cô bạn tôi thì kiên nhẫn hướng dẫn cậu bé đi ra một khu rộng rãi hơn để chơi trò phi máy bay, kiên nhẫn giải thích khi cậu bé có những lý sự rất “trên trời”.
Tôi vẫn nhớ như in cái chất giọng đều đều êm êm của cô bạn tôi khi nói với cậu bé, và tự nhiên thấy mình vui, mỉm cười. Hôm đó, cô bạn có phàn nàn về đứa con trai cả ở nhà, rằng thằng bé bây giờ đến tuổi khó bảo rồi, rằng nhiều lúc phát điên, phải quát tháo, chỉnh đốn, uốn nắn. Tôi có đùa rằng chắc tầm chục năm nữa cô bạn sẽ giống y hệt mẹ tôi ở nhà, về khoản mắng mỏ con cái. Là đùa vậy thôi, chứ tôi tin cô bạn sẽ là một tấm gương cho con cái. Cả vợ chồng bạn tôi cũng thế. Sự kiên nhẫn là thứ không giả tạo được. Cậu bé may mắn vì có những ông bố bà mẹ như vậy.
Tôi mong cậu bé xinh trai với túi trà lọc khô quắt ấy được người mẹ đối xử dịu dàng hơn, mong đứa cháu tôi được anh chị tôi nhìn nhận công bằng hơn. Về phần mình, tôi chẳng biết mình có trở thành một con người tốt đẹp hơn không, nếu như giai đoạn niên thiếu tôi được mẹ đối xử nhẹ nhàng hơn. Những vấp váp và sứt mẻ tạo nên con người tôi hôm nay, và dù sao mọi chuyện cũng là quá khứ, còn tôi thì đã lùi lại đủ xa.
Có một câu chuyện vui mà tôi hay nhớ về thời niên thiếu nhiều giông bão của mình. Để tôi kể bạn nghe.
Chả là, hồi đó, quãng lớp 7 gì đó, tôi hư nên hay bị ăn đòn. Mẹ tôi toàn dùng phất trần và chổi để vụt, quắn hết cả mông, nghĩ lại vẫn ghê. Ông bà nội xót tôi lắm, mà không làm gì được. Mẹ tôi hay gọi tôi lên phòng, khóa trái cửa, để ông bà không vào can được. Ông bà không có trong phòng mà dưới làn roi của mẹ tôi, tôi cũng “thấy ông bà” luôn, sợ thiệt.
Rồi tới một hôm, nghe thấy mẹ tôi gọi, “Đức, mày lên đây tao bảo”, là tôi biết tới công chuyện rồi. Hôm đấy tôi đang mặc quần đùi, không hiểu tổ tiên xui khiến thế nào, nghe thấy thế là tôi chạy ào ra tủ quần áo. Ông tôi đi từ tầng trệt lên, tự nhiên thấy tôi đang mặc một cái quần dài nỉ, và thêm cả một cái quần bò!
Ông hỏi, “Đi đâu đấy Đức?” Tôi đáp, “Cháu lên với mẹ”.
Ông nhìn tôi một lúc rồi tủm tỉm cười. Lúc đấy thì đầu óc tôi rối như canh hẹ rồi, lo cái mông mình chứ cần biết ông cười cái gì. Thế rồi ông đi xuống nhà, tôi nghe ông thì thầm gì đó với bà, rồi cả hai cùng cười khằng khặc thấy ghét. Lúc đấy tôi sắp khóc đến nơi rồi, lẳng lặng đi lên gác, còn mẹ tôi đang mài roi chờ sẵn. =))
Tới bây giờ, thi thoảng tôi vẫn nhắc lại chuyện này cho mẹ tôi nghe. Lần nào bà cũng cười quá trời. Những buồn vui trong đời cũng thật kỳ lạ. Chuyện buồn hôm ấy thành chuyện cười hôm nay. Ta luôn có thể chọn mà, phải không?
Và tất cả chúng ta, với đầy đủ những khiếm khuyết vốn có của con người, đều đang trên đường đi tìm phiên bản đẹp nhất của chính mình.
Nhưng, việc tìm thấy phiên bản ấy sớm hay muộn, hay thậm chí là có tìm được nó hay không, liệu ta có trở thành con người mà mình ao ước hay không, thực ra chẳng quan trọng.
Điều quan trọng, và cũng là điều giúp ta sống trọn vẹn, là ta biết rằng mình xứng đáng với một phiên bản như thế; biết rằng ta vẫn đang bước đi, cặm cụi và bền bỉ; và biết rằng mỗi ngày trôi qua, ta lại càng gần gũi hơn với bản thể mà mình trân quý ấy.
Vậy là đủ.







Có một lần mình đi cắm trại ở Mỹ và gặp 1 gia đình kia và đi cùng họ 1 chặng vài ngày. Thường ở national parks có đất đai thiên nhiên mênh mông, đi hiking lâu thì cũng ko còn ở nơi có nhà vệ sinh nữa. Cậu bé 9 tuổi mắc tè, xong cậu núp sau 1 cái cây để tè, cha cậu đã lôi cậu bé ra và phạt đứng ở gốc cây đó 1 tiếng đồng hồ để tự ngửi mùi nước tiểu. Cha cậu bắt là phải đi tới trạm nghỉ (nơi có wc) mới được tè. Ngay cả người hiking chuyên nghiệp cũng ko làm vậy, và việc đi tiểu tiện hay đại tiện đúng cách giữa rừng là rất bình thường, ngay cả national park cũng chẳng có quy định nào cấm tè cả, nhưng cha cậu ép con mình phải tuân theo cái quy tắc kỳ cục đó để 'văn minh'. Văn minh thì đúng rồi, như mình không cho trẻ tè bậy trong quán ăn, trước cửa nhà hàng xóm hay trong thương xá, nhưng có những hoàn cảnh mà người lớn hay trẻ nhỏ đều không có quyền lựa chọn, như khi ở giữa rừng vậy.
Mình chứng kiến cảnh đó và rất sợ, vì mình có 1 người bạn bằng tuổi, bạn ấy bảo rằng bạn ấy không bao giờ có thể đi tè ở ngoài đường dù là giữa đồng không mông quạnh, vì hồi bé đã được dạy rất nghiêm khắc. Vì vậy bạn đó rất hạn chế đi những nơi như cắm trại hay leo núi vì sợ không có nhà vệ sinh.
Mình thấy bạn mình trong hình ảnh tương lai của cậu bé đó, một sự kìm hãm vừa ko hợp lý, vừa có phần bạo lực, vì nhu cầu cơ bản của bạn đó không được lắng nghe, sẽ góp phần vào sự cứng nhắc ko thể thích nghi được với tương lai.
Bài viết của Đức đã dành cho mình rất nhiều đồng cảm khi nghĩ về chuyện mình từng chứng kiến, nhất là những thứ rất cơ bản như cách ăn (ăn món chả cá), ăn trước hay sau, hay đi vệ sinh, đi tắm, hay nhận thức về bản thân... nó trở thành 1 phần trong cả đời người sau này.
Lại một bài viết rất “chạm”, cám ơn Đức đã chia sẻ những câu chuyện tuổi thơ và những quan sát hàng ngày thật quý giá. Mình cũng là bà mẹ của hai con nhỏ và nhiều lúc thấy rất mất kiên nhẫn với con cái, rồi lại quay ra trách móc bản thân vì đã không là bà mẹ tốt..
Mỗi ngày trôi qua chúng ta sẽ dần trở về phiên bản “lành lặn” khôi nguyên của tâm hồn mình, cám ơn lời nhắc nhở đấy nhé.